ngôn ngữ sài gòn xưa
Cũng vì thế, ngôn ngữ Sài Gòn xưa vay mượn từ tiếng Quảng Đông được khoảng 71 triệu người Hoa trên khắp thế giới xử dụng. Người Sài Gòn thường ví những người "ăn nói không đâu vào đâu" là "nói hoảng, nói tiều" thực ra là "nói tiếng Quảng Đông, nói tiếng Triều Châu".
Sài Gòn là tên gọi cũ của Thành phố Hồ Chí Minh trước 1976, ngày nay người ta cũng thường gọi thành phố này là Sài Gòn. Ngôn ngữ học; Nhân chủng học; Tâm lý học; Thần học; Triết học; Xã hội học; Kỹ thuật. Công nghiệp; Cơ học; Điện tử học; Sài Gòn Xưa.
Sách Ngôn Ngữ Học; Sách Văn Học Tuyển Chọn; Kỷ niệm 310 năm hình thành và phát triển (1698-2008) Sài Gòn - TP.HCM và vùng đất Nam Bộ, Nhà xuất bản Trẻ trân trọng giới thiệu đến bạn đọc tập Bút ký của nhà văn Sơn Nam bao gốm 3 tác phẩm đã xuất bản được tập
Chiêu hồi là một trong những từ ngữ của Sài Gòn xưa và sẽ dần dần đi vào quên lãng. Đây là một chương trình do chính phủ Việt Nam Cộng hòa đề ra để khuyến khích các thành phần vũ trang của Mặt trận Giải phóng miền Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa buông súng quay về với phe chính phủ.
Người xưa có câu: Thắng làm vua, thua làm giặc.Ngôn ngữ chỉ là một phần trong những cái mất của chế độ Sài gòn củ thôi. hoaphonglan1911 09-09-2007, 10:16 PM
Site De Rencontre Pays De Golf. Người ta nói rằng, tiếng Việt là một trong những thứ tiếng khó học nhất, khó hơn cả tiếng Anh – thứ ngôn ngữ mà nhiều người trẻ vẫn thường than thở là gai góc, “khó nuốt”, bởi tiếng Việt của chúng ta quá phong phú về từ và nghĩa của từ. Đó là chưa kể đến tiếng địa phương và cách nói riêng của từng vùng miền. Bấy nhiêu đó cũng đủ để khiến một người nước ngoài học tiếng Việt trầy trật. Trong đó, cách nói chuyện và sử dụng từ ngữ của người dân Nam Bộ, mà nổi bật nhất là người Sài Gòn, mang những nét đặc trưng khác biệt thôi thúc người ta muốn tìm tòi, khám phá nhất. Cách nói chuyện của người Sài Gòn xưa cũng khiến không ít người đi từ ngờ ngợ sang thích thú. Với những ai lần đầu đặt chân đến Sài Gòn, họ không chỉ bị choáng ngợp với lối sống của thành phố nhộn nhịp, nhiều màu sắc này, mà cách nói chuyện của người Sài Gòn cũng khiến không ít người đi từ ngờ ngợ sang thích thú. Đặc biệt nhất, chính là ngôn ngữ của Sài Gòn xưa, một trong những thứ văn hóa còn được lưu giữ trong “hơi thở” của Sài Gòn nay. Đó là những từ ngữ sẽ khiến người nghe lần đầu phải ngơ ngác vì không hiểu nghĩa. Người nghe nhiều tự khắc “nhiễm” từ bao giờ vào cách nói chuyện của mình. Đơn giản là vì sự mộc mạc, đời sống nhưng không kém phần hoa mĩ của chúng khiến người ta dễ yêu dễ thương. Giờ thì, chúng ta hãy cùng lên chuyến tàu ngược về thời gian cũ, để tìm hiểu về những từ ngữ từng thông dụng một thời của Sài Gòn xưa ấy nhé! 1. Âm binh nghịch ngợm, phá phách Lũ âm binh = Lũ nghịch ngợm Mấy đứa trẻ con nghịch ngợm. 2. Bo bo xì nghỉ chơi, không chơi cùng nữa Bo bo xì nó đi = Nghỉ chơi với nó đi 3. Bặc co tay đôi đánh nhau tay đôi Tụi mày dám bặc co tay đôi không? = Tụi mày dám đánh nhau tay đôi không? 4. Cà tàng bình thường, quê mùa Chiếc xe cà tàng = Chiếc xe xấu xí, quê mùa 5. Cà rá chiếc nhẫn Cà rá đẹp = Chiếc nhẫn đẹp 6. Chàng hảng chê hê banh chân ra ngồi Con gái con đứa gì mà ngồi chàng hảng chê hê hà! = Con gái con đứa gì mà banh chân ra ngồi à! Họ ngồi chồm hổm mua bán trên vỉa hè. 7. Chì giỏi Anh ấy học chì lắm đó = Anh ấy học giỏi lắm đó 8. Chồm hổm ngồi bó gối hoặc ngồi lâu một chỗ không nhúc nhích 9. Càm ràm nói nhiều, nói dai Lại tới giờ bà ấy càm ràm = Lại tới giờ bà ấy nói nhiều 10. Cà nhổng rảnh rỗi, không có việc gì làm Nó suốt ngày cà nhổng = Nó suốt ngày rảnh rỗi 11. Đá cá lăn dưa lưu manh Cái tụi đá cá lăn dưa = Cái tụi lưu manh 12. Đi bang bang đi ngênh ngang Qua đường mà nó đi bang bang = Qua đường mà nó đi nghênh ngang Những chiếc xe cứ bang bang trên đường phố. 13. Đặng được; Qua anh/chị Qua tính vậy em coi có đặng hông? = Anh/chị tính vậy em coi có được không? 14. Ghẹo chọc quê Anh ghẹo em quài = Anh chọc quê em hoài 15. Hổm rày từ mấy ngày nay Hổm rày trời mưa miết = Mấy ngày nay trời mưa miết 16. Làm nư lì lợm, khó bảo, cứng đầu Nó làm nư lắm! = Nó cứng đầu lắm! 17. Lên hơi, lấy hơi lên bực tức Nghe ông nói mà tui muốn lên hơi = Nghe ông nói mà tui thấy bực 18. Liệu hồn coi chừng Mày cứ liệu hồn đấy! = Mày cứ coi chừng đấy! 19. Lô đồ giả, đồ xấu, đồ kém chất lượng Cái quạt này là đồ lô phải hông? = Cái quạt này là đồ giả phải không? 20. Mát trời ông địa thoải mái Cứ xài mát trời ông địa đi = Cứ dùng thoải mái đi 21. Mình ên một mình Đi ăn mình ên hả? = Đi ăn một mình? Tự nhiên quê xệ hà! = Tự nhiên xấu hổ à! 23. Tầm xàm bá láp vớ vẩn Chuyện tầm xàm bá láp = Chuyện vớ vẩn Đừng quan tâm chuyện tầm xàm ba láp. 24. Tầy quầy, tùm lum là la bừa bãi, lộn xộn, không ngăn nắp Con gái gì mà ăn ở tầy quầy quá! = Con gái gì mà ăn ở lộn xộn quá! 25. Thèo lẻo mách lẻo Người gì mà cứ ưa thèo lẻo = Người gì mà cứ thích mách lẻo 26. Thưa rĩnh thưa rang lưa thưa, lác đác Giờ này rồi mà người còn thưa rĩnh thưa rang = Giờ này rồi mà người còn lác đác 27. Thí cho không, miễn phí, bỏ Thôi thí cho nó đi = Thôi cho không nó đi/Thôi bỏ đi 28. Xảnh xẹ xí xọn, làm điệu Cô ấy suốt ngày xảnh xẹ thôi! = Cô ấy suốt ngày xí xọn, làm điệu thôi! Những người phụ nữ xảnh xẹ trên phố. 29. Xẹt ra – xẹt vô đi ra đi vào rất nhanh Ông ấy xẹt vô xẹt ra rồi chẳng thấy đâu nữa = Ông ấy đi vào đi ra rất nhanh rồi chẳng thấy đâu nữa 30. Xì xà xì xầm nói to nhỏ Có chuyện gì mà họ cứ xì xà xì xầm suốt = Có chuyện gì mà họ cứ nói to nhỏ suốt Những từ ngữ vừa được giải nghĩa trên đây chỉ là số ít trong kho tàng từ ngữ phong phú của người dân Nam Bộ nói chung và người Sài Gòn nói riêng. Có những từ vẫn còn dùng thông dụng cho đến ngày nay qua cách nói chuyện giữa các thế hệ trong gia đình với nhau. Với nhiều người, đó thực sự là cách nói dân dã nhưng không kém phần thú vị, còn bạn, bạn cảm nhận thế nào về những ngôn từ từng ăn sâu vào nếp sống của một thời này? Ảnh Internet
Sang đến thời kỳ “một trăm năm đô hộ giặc Tây”. Việt Nam nói chung và Sài Gòn nói riêng đã trở thành thuộc địa của Pháp. Cũng vì thế, tiếng Pháp đã có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống văn hóa, xã hội và đời thường của người Việt. Chữ Quốc ngữ, vốn được tạo ra bởi một số nhà truyền giáo Tây phương, đặc biệt là linh mục Alexandre de Rhodes tác giả cuốn Từ điển Việt-Bồ-La năm 1651, với mục đích dùng ký tự Latinh làm nền tảng cho tiếng Việt. “Latinh hóa” chữ Việt ngày càng được phổ biến để trở thành Quốc ngữ, chịu ảnh hưởng bởi những thuật ngữ, từ ngữ mới của ngôn ngữ Tây phương, nổi bật nhất là văn hóa Pháp. Khi chiếm được ba tỉnh Nam Bộ, người Pháp đã nắm trong tay một công cụ vô cùng hữu hiệu để truyền bá văn hoá đồng thời chuyển văn hoá Nho giáo sang văn hoá Phương Tây. Tờ Gia Định Báo là tờ báo đầu tiên được phát hành bằng chữ Quốc ngữ vào năm 1865, khẳng định sự phát triển và xu hướng của chữ Quốc Ngữ như là chữ viết chính thức của nước Việt Nam sau này. Linh mục Alexandre de Rhodes Đối với người bình dân, việc tiếp nhận tiếng Pháp đến một cách rất tự nhiên. Người ta có thể nói “Cắt tóc, thui dê” để chỉ ngày Quốc khánh Pháp 14/7, Quatorze Juliet. Người ta có thể dùng tiếng Tây “bồi” nhưng lại không cảm thấy xấu hổ vì vốn liếng tiếng Pháp của mình vốn chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Để tả con cọp, người ta có thể dài dòng văn tự “tí ti giôn, tí ti noa, lủy xực me-xừ, lủy xực cả moi”. Diễn nôm câu này là một chút màu vàng jaune, một chút màu đen noir, nó ăn thịt ông monsieur, nó ăn thịt cả tôi moi. Nhân đây cũng xin nói thêm về những đại danh từ nhân xưng như toa anh, mày – toi, moa hay mỏa tôi, tao – moi, en hay ẻn cô ấy, chị ấy – elle, lúy hay lủy anh ấy, hắn – lui, xừ hay me-xừ ông, ngài – monsieur… Học trò trường Tây, những nhà trí thức khoa bảng hay cả những kẻ tỏ ra “thời thượng” ngày xưa thường dùng những đại từ này. Cũng vì thế có một câu mang tính cách châm chọc “Hôm qua moa đi xe lửa, buồn tiểu quá nên moa phải… trên đầu toa” toa ở đây có 2 nghĩa toa xe lửa nhưng cũng có ý là toi anh trong tiếng Pháp. Nói thêm về hỏa xa, người Pháp xây dựng đường xe lửa đầu tiên ở Việt Nam tại Sài Gòn từ năm 1881. Đây là đoạn đường ray rail từ Cột cờ Thủ Thiêm đến bến xe Chợ Lớn, dài 13km. Mãi đến năm 1885 chuyến xe lửa đầu tiên mới được khởi hành và một năm sau, tuyến đường Sài Gòn-Mỹ Tho dài 71km bắt đầu hoạt động. Sau đó, mạng lưới đường sắt được xây dựng trên khắp lãnh thổ Việt Nam, dùng kỹ thuật của Pháp với khổ đường ray 1 mét. Tính đến năm 1975 miền Nam có khoảng đường ray nhưng vì chiến cuộc nên chỉ được sử dụng khoảng 60%. Nhà ga xe lửa cạnh đầu đường Lê Lai 1931 Nhà ga cũng có xuất xứ từ tiếng Pháp gare. Ga là công trình kiến trúc làm nơi cho tàu hoả, tàu điện hay máy bay đỗ để hành khách lên xuống hoặc để xếp dỡ hàng hoá. Từ sự vay mượn này ta có thêm những từ ngữ như sân ga, trưởng ga, ga chính, ga xép… Nhân nói về ga tưởng cũng nên nhắc lại động từ bẻ ghi aiguiller tức là điều khiển ghi aiguille cho xe lửa chuyển sang đường khác. Trong tiếng Việt, bẻ ghi còn có nghĩa bóng là thay đổi đề tài, chuyển từ chuyện mình không thích sang một đề tài khác. Ga Đà Lạt 1938 Có những từ ngữ xuất xứ từ tiếng Pháp nhưng vì lâu ngày dùng quen nên người ta cứ tưởng chúng là những từ “thuần Việt”. Chẳng hạn như cao su caoutchouc, một loại cây công nghiệp được người Pháp du nhập vào Việt Nam qua hình thức những đồn điền tại miền Nam. Ngôn ngữ tiếng Việt rất linh động trong cách dùng từ ngữ cao su qua các biến thể như giờ cao su giờ giấc co dãn, không đúng giờ, kẹo cao su chewing-gum… Nhà băng banque là một chữ quen dùng trong ngôn ngữ hàng ngày còn xà bông cũng là loại chữ dùng lâu ngày thành quen nên ít người để ý xuất xứ của nó là từ tiếng Pháp, savon. Ở miền Bắc, xà bông được cải biên thành xà phòng, là chất dùng để giặt rửa, chế tạo bằng cách cho một chất kiềm tác dụng với một chất béo. Nổi tiếng ở Sài Gòn xưa có xà bông Cô Ba của Trương Văn Bền, dùng dầu dừa làm nguyên liệu chính. Ngân Hàng Đông Dương nhìn từ phía sau góc Tôn Thất Đạm-Nguyễn Công Trứ Chúng ta thấy ngôn ngữ Việt vay mượn từ tiếng Pháp trong rất nhiều lãnh vực. Về ẩm thực, tiếng Việt thường mượn cả cách phát âm đến tên của các món ăn có xuất xứ từ phương Tây. Vào nhà hàng, người phục vụ đưa ra mơ-nuy thực đơn – menu trong đó có những món như bít-tết chữ bifteck của Pháp lại mượn từ nguyên thủy tiếng Anh – beefsteak, những thức uống như bia rượu bia – bière, được chế biến từ cây hốt bố hay còn gọi là hoa bia – houblon, rượu vang rượu nho – vin… Về thịt thì có xúc-xích saucisse, pa-tê paté, giăm-bông jambon, thịt phi-lê thịt thăn, thịt lườn – filet. Các món ăn thì có ra-gu ragout, cà-ri curry… Khi ăn xong, khách xộp còn cho người phục vụ tiền puộc-boa tiền thưởng – pourboire. Ngày nay từ boa hay bo được dùng phổ biến với ý nghĩa cho tiền thưởng, hay còn gọi là tiền phong bao hoặc tiền phục vụ. Bánh Pâté Chaud Từ rất lâu, ở Sài Gòn xuất hiện các loại bánh mì theo kiểu Pháp, miền Bắc lại gọi là bánh tây với hàm ý du nhập từ Pháp. Có nhiều loại bánh đặc biệt như bánh mì ba-ghét loại bánh mì nhỏ, dài – baguette, bánh pa-tê-sô một loại bánh nhân thịt, ăn lúc nóng vừa dòn vừa ngon – pathé chaud, bánh croát-xăng hay còn gọi là bánh sừng bò – croissant. Người Sài Gòn thường ăn sáng với bánh mì kèm theo nhiều kiểu chế biến trứng gà như ốp-la trứng chỉ chiên một mặt và để nguyên lòng đỏ – oeuf sur le plat, trứng ốp-lết trứng tráng – omelette hoặc trứng la-cóc trứng chụng nước sôi, khi ăn có người lại thích thêm một chút muối tiêu – oeuf à la coque. Cà phê Brodard trên đường Catinat Món không thể thiếu trong bữa ăn sáng là cà phê café. Cà phê phải được lọc từ cái phin filtre à café mới đúng điệu. Người miền Bắc ít uống cà phê nên sau năm 1975 vào Sài Gòn nhiều người đã mô tả cái phin cà phê một cách rất “gợi hình” “cái nồi ngồi trên cái cốc”. Ngôn ngữ về trang phục cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều từ tiếng Pháp. Bình thường hàng ngày người ta mặc áo sơ-mi chemise, cổ tay có cài khuy măng-sét manchette. Khi đi tiệc tùng hoặc hội họp thì mặc áo vét vest hay bộ vét-tông veston kèm theo chiếc cà-vạt cravate trên cổ áo sơ mi. Trời hơi lạnh có thể mặc bên trong áo vét một chiếc gi-lê gilet và hai tay mang găng gants cho ấm. Ngay cả quần áo lót bên trong cũng mượn từ tiếng Pháp. Phụ nữ thì mang xú-chiêng nịt ngực – soutien-gorge và xì-líp slip. Nam giới thì mặc áo may-ô maillot bên trong áo sơ-mi. Mặc quần thì phải có xanh-tuya dây nịt – ceinture và khi trời nóng thì mặc quần sóc quần ngắn, tiếng Pháp là short được mượn từ tiếng Anh shorts. Trang phục có thể được may từ các loại cô-tông vải bông – coton hoặc bằng len làm từ lông cừu – laine. Trên đầu có mũ phớt feutre, một loại mũ dạ, mũ be-rê béret, một loại mũ nồi… dưới chân là đôi dép săng-đan sandales, sau này người Sài Gòn lại chế thêm dép sa-bô sabot nguyên thủy tiếng Pháp là guốc. Đi lính cho Tây thì được phát đôi giày săng-đá giày của lính – soldat. Loại lính nhảy dù, biệt kích ngày nay là đặc công gọi là còm-măng-đô commando. Một đoàn xe quân sự có hộ tống được gọi là công-voa convoi, trông cứ như con voi trong tiếng Việt!. Thuật ngữ quân sự chỉ những công sự xây đắp thành khối vững chắc, dùng để phòng ngự, cố thủ một nơi nào đó được gọi là lô-cốt có xuất xứ từ blockhaus. Ngày nay, chữ lô cốt còn được dùng chỉ những nơi đào đường, thường được rào chắn, vây kín mặt đường, cản trở lưu thông. Xưa kia cảnh sát được gọi qua nhiều tên mã-tà xuất xứ từ tiếng Pháp matraque, có nghĩa là dùi cui, sen đầm gendarme, phú-lít police, ông cò commissaire… Lực lượng thuế quan ngày nay gọi là hải quan được gọi là đoan douane, lính đoan còn có nhiệm vụ đi bắt rượu lậu là một mặt hàng quốc cấm thời Pháp thuộc. Nông phẩm thì có đậu cô-ve còn gọi tắt là đậu ve – haricot vert, đậu pơ-tí-poa đậu Hòa Lan có hột tròn màu xanh – petits-pois, bắp sú bắp cải – chou, súp-lơ bông cải – chou-fleur, xà lách salade, cải xoong còn gọi là xà lách xoong – cresson, cà-rốt carotte, ác-ti-sô artichaut… Tiếng Tây cũng đi vào âm nhạc. Từ điệu valse, tango… đến đàn piano dương cầm, violon vĩ cầm, kèn harmonica khẩu cầm… Ở các đăng-xinh khiêu vũ trường – dancing luôn có ọc-két ban nhạc – orchestre chơi nhạc và xuất hiện một nghề mới gọi là ca-ve gái nhẩy – cavalière. Ngày nay người ta dùng từ ngữ ca-ve với ý chỉ tất cả những cô gái làm tiền, khác hẳn với ý nghĩa nguyên thủy của nó. Vũ trường Maxim’s trên đường Tự Do cạnh khách sạn Majestic Người phương Tây dùng nhiều sữa và các sản phẩm của sữa nên đã đưa vào ngôn ngữ tiếng Việt những từ ngữ như bơ beurre, pho-mát fromage, kem crème… Nổi tiếng ở Sài Gòn có hai nhãn hiệu sữa Ông Thọ Longevity và Con Chim Nestlé như đã nói ở phần trên. Có người cắc cớ thắc mắc, đàn ông mà lại là ông già thì làm sao có sữa? Xin thưa, hình tượng “Ông Thọ chống gậy” trên hộp sữa chỉ muốn nói lên tuổi thọ longévité của người dùng sữa. Trường hợp của Nestlé cũng vậy. Con Chim thì làm gì có sữa? Thực ra thì logo của Nestlé là một tổ chim gồm chim mẹ và 2 chim con nhưng người Việt mình cứ gọi là sữa Con Chim cho tiện. Trụ sở hãng sữa Nestlé sữa Con chim trên đường Công Lý Thế mạnh của Nestlé là các sản phẩm sữa bò khác như Núi Trắng Lait Mont-Blanc và sữa bột Guigoz. Ngày xưa, những gia đình trung lưu đều nuôi con bằng sữa bột Guigoz. Tôi vẫn còn nhớ cảm giác khi ăn vụng một thìa Guigoz của em út vừa bùi, vừa béo, những hạt sữa nhỏ ly ty như tan ngay trong miệng. Sữa bột Guigoz được chứa trong một cái lon bằng nhôm, cao 15cm, có sọc ngang, bên trong lại có sẵn thìa để giúp người pha dễ đo lường. Khi dùng hết bột, các bà nội trợ không vứt lon như những loại sữa khác vì lon Guigoz có nắp đậy rất kín nên được “tái sử dụng” trong việc đựng đường, muối, tiêu, bột ngọt… Logo hình tổ chim của hãng sữa Nestlé Những người thiết kế lon Guigoz chắc hẳn chưa bao giờ nghĩ cái lon lại có nhiều công dụng sau khi sữa bột ở bên trong đã dùng hết. Lon Guigoz đã theo chân những tù nhân cải tạo như một vật “bất ly thân”. Những người “tưởng đi học có 10 ngày” mang theo lon Guigoz để đựng các vật dụng linh tinh như bàn chải, kem đánh răng, vài loại thuốc cảm cúm, nhức đầu để phòng khi cần đến. Lon Guigoz thường được chúng tôi gọi tắt là “lon gô”. Học tập càng lâu lon gô càng tỏ ra “đa năng, đa hiệu”. Muốn múc nước từ giếng lên thì dùng gô làm gàu, buổi sáng thức dậy dùng gô làm ly đựng nước súc miệng, nhưng gô còn tỏ ra đặc biệt hữu ích khi dùng như một cái nồi để nấu nước, thổi cơm, luộc măng lấy ở trên rừng, luộc rau, luộc khoai mỳ “chôm chỉa” khi đi “tăng gia sản xuất”… nghĩa là làm được tất cả mọi công việc bếp núc. Chúng tôi ở trong một căn cứ cũ của Sư đoàn 25 tại Trảng Lớn Tây Ninh nên có cái may là còn rất nhiều vỏ đạn 105 ly. Người cải tạo săn nhặt những vỏ đạn về và chế thành một cái lò “dã chiến” và lon gô để vào trong lò vừa khít, tưởng như 2 nhà thiết kế vỏ đạn và lon gô đã ăn ý với nhau “từng centimét” ngay từ khâu thiết kế ban đầu! Ai chưa có lon gô thì nhắn gia đình tìm để đựng đồ ăn mỗi khi được vào trại “thăm nuôi”. Sau 30/4/75 lon gô trở nên hữu dụng vì công nhân, sinh viên, học sinh dùng lon gô để đựng cơm và thức ăn cho bữa trưa. Người Sài Gòn thường đeo một cái túi đựng lon gô khi đi làm, một hình ảnh không thể nào quên của “thời điêu linh” sau 1975. Tình cờ tôi bắt gặp trang web của Pháp quảng cáo bán lon sữa Guigoz cho những người sưu tầm, giá lên tới 15 euro cho một lon Guigoz xưa, dĩ nhiên là chỉ có lon không, không có sữa! Người Pháp khi đến Việt Nam mang theo cả chiếc ô-tô xe hơi – auto, automobile. Xe xưa thì khởi động bằng cách quay ma-ni-ven manivelle đặt ở đầu xe, sau này tân tiến hơn có bộ phận đề-ma-rơ khởi động – démarreur. Sau khi đề demarrer, xe sẽ nổ máy, sốp-phơ người lái xe – chauffeur sẽ cầm lấy vô-lăng bánh lái – volant để điều khiển xe… Về cơ khí thì người Sài Gòn dùng các từ ngữ như cờ-lê chìa vặn – clé, mỏ-lết molete, đinh vít vis, tuốc-nơ-vít cái vặn vít – tournevis, công-tơ thiết bị đồng hồ – compteur, công tắc cầu dao – contact… Công ty xe hơi Pháp Citroen REX Hotel Saigon 1927 Bây giờ nói qua chuyện xe đạp cũng có nhiều điều lý thú. Chiếc xe đạp trong ngôn ngữ Việt mượn rất nhiều từ tiếng Pháp. Trước hết, phía trước có guy-đông thanh tay lái – guidon, dưới chân có pê-đan bàn đạp – pedale, săm ruột bánh xe – chambre à air và phía sau là bọc-ba-ga để chở hàng hóa – porte-bagages. Chi tiết các bộ phận trong xe đạp cũng… Tây rặc. Có dây sên dây xích – chaine, có líp bộ phận của xe đạp gồm hai vành tròn kim loại lồng vào nhau, chỉ quay tự do được theo một chiều – roue libre, rồi phanh thắng – frein ở cả bánh trước lẫn bánh sau. Thêm vào đó còn có các bộ phận bảo vệ như gạc-đờ-bu thanh chắn bùn – garde-boue và gạc-đờ-sên thanh che dây xích – garde-chaine. Xe hơi trên đường Nguyễn Huệ Mỗi chiếc xe đạp xưa còn trang bị một ống bơm pompe để phòng khi lốp xe xuống hơi. Bên cạnh đó người ta gắn một chiếc đy-na-mô dynamo – bộ phận phát điện làm sáng đèn để đi vào ban đêm. Tôi còn nhớ khi tháo tung một cái dynamo cũ thấy có một cục man châm gắn vào một trục để khi trục quay sẽ sinh ra điện. Hồi xửa hồi xưa, đi xe đạp không đèn vào ban đêm rất dễ bị phú-lít thổi phạt nên nếu xe không đèn, người lái phải cầm bó nhang thay đèn! Sài Gòn xưa có các nhãn hiệu xe đạp mổi tiếng như Peugoet, Mercier, Marila, Follis, Sterling… Đó là những chiếc xe đã tạo nên nền “văn minh xe đạp” của những thế hệ trước và một nền “văn hóa xe đạp” còn lưu lại trong ngôn ngữ tiếng Việt của người Sài Gòn xưa. Tác giã Nguyễn Ngọc Chính
Người ta nói rằng, tiếng Việt là một trong những thứ tiếng khó học nhất, khó hơn cả tiếng Anh – thứ ngôn ngữ mà nhiều người trẻ vẫn thường than thở là gai góc, “khó nuốt”, bởi tiếng Việt của chúng ta quá phong phú về từ và nghĩa của từ. Đó là chưa kể đến tiếng địa phương và cách nói riêng của từng vùng miền. Bấy nhiêu đó cũng đủ để khiến một người nước ngoài học tiếng Việt trầy trật. Trong đó, cách nói chuyện và sử dụng từ ngữ của người dân Nam Bộ, mà nổi bật nhất là người Sài Gòn, mang những nét đặc trưng khác biệt thôi thúc người ta muốn tìm tòi, khám phá nhất. Cách nói chuyện của người Sài Gòn xưa cũng khiến không ít người đi từ ngờ ngợ sang thích thú. Với những ai lần đầu đặt chân đến Sài Gòn, họ không chỉ bị choáng ngợp với lối sống của thành phố nhộn nhịp, nhiều màu sắc này, mà cách nói chuyện của người Sài Gòn cũng khiến không ít người đi từ ngờ ngợ sang thích thú. Đặc biệt nhất, chính là ngôn ngữ của Sài Gòn xưa, một trong những thứ văn hóa còn được lưu giữ trong “hơi thở” của Sài Gòn nay. Đó là những từ ngữ sẽ khiến người nghe lần đầu phải ngơ ngác vì không hiểu nghĩa. Người nghe nhiều tự khắc “nhiễm” từ bao giờ vào cách nói chuyện của mình. Đơn giản là vì sự mộc mạc, đời sống nhưng không kém phần hoa mĩ của chúng khiến người ta dễ yêu dễ thương. Giờ thì, chúng ta hãy cùng lên chuyến tàu ngược về thời gian cũ, để tìm hiểu về những từ ngữ từng thông dụng một thời của Sài Gòn xưa ấy nhé! 1. Âm binh nghịch ngợm, phá phách Lũ âm binh = Lũ nghịch ngợm Mấy đứa trẻ con nghịch ngợm. 2. Bo bo xì nghỉ chơi, không chơi cùng nữa Bo bo xì nó đi = Nghỉ chơi với nó đi 3. Bặc co tay đôi đánh nhau tay đôi Tụi mày dám bặc co tay đôi không? = Tụi mày dám đánh nhau tay đôi không? 4. Cà tàng bình thường, quê mùa Chiếc xe cà tàng = Chiếc xe xấu xí, quê mùa 5. Cà rá chiếc nhẫn Cà rá đẹp = Chiếc nhẫn đẹp 6. Chàng hảng chê hê banh chân ra ngồi Con gái con đứa gì mà ngồi chàng hảng chê hê hà! = Con gái con đứa gì mà banh chân ra ngồi à! Họ ngồi chồm hổm mua bán trên vỉa hè. 7. Chì giỏi Anh ấy học chì lắm đó = Anh ấy học giỏi lắm đó 8. Chồm hổm ngồi bó gối hoặc ngồi lâu một chỗ không nhúc nhích 9. Càm ràm nói nhiều, nói dai Lại tới giờ bà ấy càm ràm = Lại tới giờ bà ấy nói nhiều 10. Cà nhổng rảnh rỗi, không có việc gì làm Nó suốt ngày cà nhổng = Nó suốt ngày rảnh rỗi 11. Đá cá lăn dưa lưu manh Cái tụi đá cá lăn dưa = Cái tụi lưu manh 12. Đi bang bang đi ngênh ngang Qua đường mà nó đi bang bang = Qua đường mà nó đi nghênh ngang Những chiếc xe cứ bang bang trên đường phố. 13. Đặng được; Qua anh/chị Qua tính vậy em coi có đặng hông? = Anh/chị tính vậy em coi có được không? 14. Ghẹo chọc quê Anh ghẹo em quài = Anh chọc quê em hoài 15. Hổm rày từ mấy ngày nay Hổm rày trời mưa miết = Mấy ngày nay trời mưa miết 16. Làm nư lì lợm, khó bảo, cứng đầu Nó làm nư lắm! = Nó cứng đầu lắm! 17. Lên hơi, lấy hơi lên bực tức Nghe ông nói mà tui muốn lên hơi = Nghe ông nói mà tui thấy bực 18. Liệu hồn coi chừng Mày cứ liệu hồn đấy! = Mày cứ coi chừng đấy! 19. Lô đồ giả, đồ xấu, đồ kém chất lượng Cái quạt này là đồ lô phải hông? = Cái quạt này là đồ giả phải không? 20. Mát trời ông địa thoải mái Cứ xài mát trời ông địa đi = Cứ dùng thoải mái đi 21. Mình ên một mình Đi ăn mình ên hả? = Đi ăn một mình? 22. Quê xệ xấu hổ Tự nhiên quê xệ hà! = Tự nhiên xấu hổ à! 23. Tầm xàm bá láp vớ vẩn Chuyện tầm xàm bá láp = Chuyện vớ vẩn Đừng quan tâm chuyện tầm xàm ba láp. 24. Tầy quầy, tùm lum là la bừa bãi, lộn xộn, không ngăn nắp Con gái gì mà ăn ở tầy quầy quá! = Con gái gì mà ăn ở lộn xộn quá! 25. Thèo lẻo mách lẻo Người gì mà cứ ưa thèo lẻo = Người gì mà cứ thích mách lẻo 26. Thưa rĩnh thưa rang lưa thưa, lác đác Giờ này rồi mà người còn thưa rĩnh thưa rang = Giờ này rồi mà người còn lác đác 27. Thí cho không, miễn phí, bỏ Thôi thí cho nó đi = Thôi cho không nó đi/Thôi bỏ đi 28. Xảnh xẹ xí xọn, làm điệu Cô ấy suốt ngày xảnh xẹ thôi! = Cô ấy suốt ngày xí xọn, làm điệu thôi! Những người phụ nữ xảnh xẹ trên phố. 29. Xẹt ra – xẹt vô đi ra đi vào rất nhanh Ông ấy xẹt vô xẹt ra rồi chẳng thấy đâu nữa = Ông ấy đi vào đi ra rất nhanh rồi chẳng thấy đâu nữa 30. Xì xà xì xầm nói to nhỏ Có chuyện gì mà họ cứ xì xà xì xầm suốt = Có chuyện gì mà họ cứ nói to nhỏ suốt Những từ ngữ vừa được giải nghĩa trên đây chỉ là số ít trong kho tàng từ ngữ phong phú của người dân Nam Bộ nói chung và người Sài Gòn nói riêng. Có những từ vẫn còn dùng thông dụng cho đến ngày nay qua cách nói chuyện giữa các thế hệ trong gia đình với nhau. Với nhiều người, đó thực sự là cách nói dân dã nhưng không kém phần thú vị, còn bạn, bạn cảm nhận thế nào về những ngôn từ từng ăn sâu vào nếp sống của một thời này? Ảnh Internet
Nguyễn Ngọc Chính Có thể nói, bất kỳ một ngôn ngữ trên trái đất này cũng đều trải qua hình thức vay mượn từ các ngôn ngữ khác. Ảnh hưởng về văn hóa là một trong những tác động chính trong việc vay mượn về ngôn ngữ. Ngoài ra, còn phải kể đến các yếu tố khác như địa lý, lịch sử, chính trị và xã hội trong việc hình thành ngôn ngữ vay mượn. Miền Nam nói chung và Sài Gòn nói riêng vốn là một “melting pot”, dễ dàng hòa nhập với các nền văn hóa khác từ tiếng Tàu, tiếng Pháp và cuối cùng là tiếng Anh. Ở đây, xin được bàn về ảnh hưởng của Trung Hoa mà ta thường gọi nôm na là Tàu cùng những biến thể như Người Tàu, Ba Tàu, Các Chú, Khách Trú và Chệt hoặc Chệc. Gia Định Báo số 5, năm thứ 6, phát hành ngày 16/2/1870 giải thích “…An-nam ta kêu là Tàu, người bên Tàu, là vì khách thường đi tàu qua đây, lại dùng tàu chở đồ hàng hóa qua đây buôn bán; nên kêu là Tàu, hàng Tàu, đồ Tàu Từ Ba-Tàu có cách giải thích như sau Ba có nghĩa là ba vùng đất mà chúa Nguyễn cho phép người Hoa làm ăn và sinh sống vùng Cù Lao Phố Đồng Nai, Sài Gòn-Chợ Lớn, Hà Tiên, từ Tàu bắt nguồn từ phương tiện đi lại của người Hoa khi sang An Nam, nhưng dần từ Ba Tàu lại mang nghĩa miệt thị, gây ảnh hưởng xấu…” “…Kêu Các-chú là bởi người Minh-hương mà ra; mẹ An-nam cha Khách nên nhìn người Tàu là anh em, bằng không thì cũng là người đồng châu với cha mình, nên mới kêu là Các-chú nghĩa là anh em với cha mình. Sau lần lần người ta bắt chước mà kêu bậy theo làm vậy…” “… Còn kêu là Chệc là tại tiếng Triều Châu kêu tâng Chệc nghĩa là chú. Người bên Tàu hay giữ phép, cũng như An-nam ta, thấy người ta tuổi đáng cậu, cô, chú, bác thì kêu tâng là chú là cậu vân vân. Người An-nam ta nghe vậy vịn theo mà kêu các ảnh là Chệc…” Cách giải thích thuật ngữ nói trên của Gia Định Báo từ thế kỷ thứ 19 được coi là tạm ổn vì đây là một trong những tài liệu xưa có xuất xứ từ miền Nam. Theo Lê ngọc Trụ trong Tầm nguyên Tự điển Việt Nam, chệc hay chệt là tiếng Tiều gọi chữ thúc, nghĩa là “em trai của cha”. Người bình dân gọi Chệc để chỉ chung người Hoa. Người Quảng Đông cho là gọi như thế có ý miệt thị, người Triều Châu trái lại, chấp nhận vì họ được tôn là chú. Ở miền Nam, “các chú” Quảng làm ăn buôn bán khá hơn “các chú chệc” người Tiều lam lũ trong nghề làm rẫy, tằn tiện nên không biết có phải vì vậy mới có câu Quảng Đông ăn cá bỏ đầu Tiều Châu lượm lấy đem về kho tiêu ! Người Tiều lại chê dân Quảng không biết ăn cá. Họ nói món cháo cá Tiều khi ăn có vị ngọt đặc biệt nhờ chỉ rửa sạch bên ngoài, giữ lại nguyên si vảy, đầu và cả ruột ! Dân Tiều ở miền Nam “chuyên trị” những món cá chim hấp, bò viên, tôm viên, ruột heo nấu cải chua… và nhất là món hủ tíu Tiều Châu. Người ta còn dùng các từ như Khựa, Xẩm, Chú Ba… để chỉ người Tàu, cũng với hàm ý miệt thị, coi thường. Tuy nhiên, có sự phân biệt rõ ràng trong cách gọi phụ nữ Tàu được gọi là thím xẩm còn nam giới thì lại là chú ba. Năm 1956, chính phủ Ngô Đình Diệm của nền Đệ nhất Cộng hòa 1955-1963 đã có một quyết định khá táo bạo, buộc tất cả Hoa kiều phải nhập quốc tịch Việt Nam, nếu không sẽ bị trục xuất. Thương nghiệp tại miền Nam sau thời Pháp thuộc phần lớn nằm trong quyền kiểm soát của Hoa kiều. Vì vậy, chính phủ cố tạo sức mạnh cho doanh nhân Việt bằng cách hạn chế quyền lợi của người Hoa. Đạo luật 53 cấm ngoại kiều nhắm vào Hoa kiều tham gia 11 nghề liên quan đến thóc gạo, điền địa, buôn bán thịt cá, than đá, dầu lửa, thu mua sắt vụn… được chính phủ Ngô Đình Diệm ban hành vào tháng 9/1956. Đạo luật này đã làm xáo trộn kinh tế trong nước nhưng đã có tác động mạnh đến nền công thương nghiệp của người Việt vào thời kỳ đó. Đa số người Hoa đã nhập tịch Việt, tính đến năm 1961, trong số 1 triệu Hoa kiều ở miền Nam chỉ còn khoảng người giữ lại Hoa tịch. Người Tàu kiểm soát gần như toàn bộ các vị trí kinh tế quan trọng, và đặc biệt nắm chắc ba lĩnh vực quan trọng sản xuất, phân phối và tín dụng. Đến cuối năm 1974, họ kiểm soát hơn 80% các cơ sở sản xuất của các ngành công nghiệp thực phẩm, dệt may, hóa chất, luyện kim, điện… và gần như đạt được độc quyền thương mại 100% bán buôn, hơn 50% bán lẻ, và 90% xuất nhập cảng. Hoa kiều ở miền Nam gần như hoàn toàn kiểm soát giá cả thị trường. Cũng vì thế, ở Sài Gòn có câu mỉa mai “Sống phá rối thị trường, chết chật đường chật sá” để ám chỉ người Tàu khi còn sống lũng đoạn nền kinh tế và đến lúc chết lại tổ chức những đám ma một cách rình rang. Cũng như người Tàu ở Hồng Kông và Macao, người Tàu ở miền Nam đa số nói tiếng Quảng Đông Cantonese chứ không nói tiếng Quan Thoại Mandarin mà ngày nay gọi là tiếng Phổ Thông. Cũng vì thế, ngôn ngữ Sài Gòn xưa vay mượn từ tiếng Quảng Đông được khoảng 71 triệu người Hoa trên khắp thế giới sử dụng. Người Sài Gòn thường ví những người “ăn nói không đâu vào đâu” là “nói hoảng, nói tiều” thực ra là “nói tiếng Quảng Đông, nói tiếng Triều Châu”. Điều này cho thấy tiếng Quảng Đông xuất hiện rất nhiều trong ngôn ngữ miền Nam trước năm 1975, kế đến mới là tiếng Triều Châu. Trên thực tế, người Tàu có đến 5 nhóm Hoa kiều, được gọi là Ngũ Bang tại miền Nam Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam và Khách Gia người Hẹ. Trong lĩnh vực ẩm thực của Sài Gòn xưa, ảnh hưởng của người Tàu gốc Quảng Đông rất đậm nét. Nói cho công bằng, bên cạnh số đông các tửu lầu, cao lâu của người Tàu gốc Quảng Đông, ở Sài Gòn – Chợ Lớn cũng có lai rai một số tiệm Tàu khác như tiệm Hủ tíu Triều Châu ở đối diện Chợ Lớn Mới, Cơm Gà Hải Nam ở Chợ An Đông hay đường Tôn Thọ Tường. Theo nhà văn Bình-nguyên Lộc, thời tiền chiến trước 1945, các phổ ky trong tiệm Tàu còn có kiểu kêu vào bếp những món ăn thực khách gọi y như người ta gọi “lô-tô” bingo, dĩ nhiên bằng tiếng Quảng Đông – Bàn số 3, bên Đông, bà lùn, cà phê ít, sữa nhiều ! – Bàn số 4, bên Đông, hủ tíu không giá. – Bàn số 1, bên Tây, thêm bánh bao ngọt thằng nhỏ. – Bàn số 2, bên Tây, ông già râu, cà phê đen ly lớn, xíu mại to. Chủ tiệm thường biết rõ tính nết và sở thích ăn uống của mỗi khách quen, nên họ thường đặt cho mỗi người một cái tên thuộc loại… “hỗn danh”. Khi khách ăn xong lại quầy trả tiền thì phổ ky rao những câu hóm hỉnh bằng tiếng Quảng Đông, chẳng hạn như – Ông đầu hói mang khăn rằn, một đồng hai cắc. – Bà hai mập, ba đồng sáu cắc. – Ông chủ ốm nón nỉ, tám đồng tư, hai bánh bao mang về. Nổi tiếng tại Sài Gòn xưa có các nhà hàng Đồng Khánh, Arc-en-ciel, Soái Kình Lâm, Bát Đạt, Á Đông, Đại La Thiên, Triều Châu… Cơm Tàu thường được để trong những cái thố nhỏ nên được gọi là cơm thố, chỉ là cơm trắng dùng chung với các món ăn nhưng không nấu bằng nồi mà chỉ hấp cách thủy để cho chín gạo. Thông thường một người ăn chừng một hoặc hai thố là no. Có người lại ca tụng ăn cơm thố chỉ cần chan chút hắc xì dầu nước tương đen pha với dấm Tiều thêm chút ớt là đã thấy ngon rồi. Nghĩ lại cũng đúng nhưng nếu ăn kiểu này thì những tiệm nổi tiếng như Siu Siu bên hông chợ An Đông hay Siu Siu ở đầu hẻm Nguyễn Duy Dương hình như ở số nhà 61 chắc đã dẹp tiệm từ lâu rồi. Cơm chiên Dương Châu cũng là món ăn du nhập từ Quảng Đông. Nhiều người rất khoái cơm chiên nhưng ít người biết từ khởi thủy đây chỉ là các thức ăn dư thừa được chế biến lại. Cũng thuộc loại thức ăn dư thừa có món tài páo bánh bao. Bạn không tin ư ? Nhân bánh bao là thịt vụn được xào lên, trộn với lạp xưởng và trứng sau này được thay bằng trứng cút kể từ khi dịch cút lan truyền khắp Sài Gòn, nhà nhà nuôi cút, người người ăn trứng cút. Vỏ bánh bao được làm bằng bột mì, sau khi hấp chín bột nở phình ra trông thật hấp dẫn. Có người bảo cơm chiên Dương Châu và bánh bao thể hiện tính tằn tiện và tiết kiệm của người Tàu, không bỏ phí thức ăn thừa! Nói cho vui vậy thôi chứ từ cơm chiên, bánh bao đến các loại sơn hào hải vị như bào ngư, vi cá, yến sào… đều đòi hỏi cách chế biến, đó là nghệ thuật nấu ăn. Các tiệm “cà phê hủ tíu” của Tàu lan rộng ra nhiều nơi chứ không riêng gì trong Chợ Lớn. Khắp Sài Gòn, Gia Định rồi xuống đến Lục Tỉnh đi đâu cũng thấy những xe mì, xe hủ tíu, chỉ nhìn cách trang trí cũng có thể biết được chủ nhân là người Tàu. Họ có kiểu cách riêng biệt với những chiếc xe bằng gỗ, thiết kế một cách cầu kỳ. Phần trên xe là những tấm kính tráng thủy có vẽ hình các nhân vật như Quan Công, Lưu Bị, Trương Phi, Triệu Tử Long… trong truyện Tam Quốc. Ăn điểm tâm thì có mì, hủ tíu, bánh bao, há cảo, xíu mại… Khách thường gọi một ly xây chừng, đó là một ly cà phê đen nhỏ hay tài phế cà phê đen lớn. Sang hơn thì gọi phé nại cà phê sữa hoặc bạt xỉu nhiều sữa nhưng ít cà phê với sữa đặc có đường hiệu Ông Thọ hoặc Con Chim. Có người lại dùng bánh tiêu hoặc dầu-cha-quẩy nhúng vào cà phê để ăn thay cho các món điểm tâm đắt tiền. Vào một quán nước bình dân trong Chợ Lớn ta có thể gọi một ly suỵt xủi và người phục vụ đem ra một ly đá chanh mát lạnh. Tại các tiệm “cà phê hủ tíu” luôn luôn có bình trà để khách có thể nhâm nhi nhậm xà uống trà trước khi gọi phổ ky đến để thảy xu tính tiền. Nhậm xà còn có nghĩa là tiền hối lộ, tiền trà nước. Người sành điệu còn “xổ” một tràng “broken Cantonese” “Hầm bà làng kỵ tố ?” Hết thảy bao nhiêu tiền ?. Những từ ngữ vay mượn của người Tàu dùng lâu hóa quen nên có nhiều người không ngờ mình đã sử dụng ngôn ngữ ngoại lai. Chẳng hạn như ta thường lì xì cho con cháu vào dịp Tết hoặc lì xì cho thầy chú cảnh sát để tránh phiền nhiễu, cũng là một hình thức hối lộ. Lạp xưởng người Bắc gọi là Lạp xường là một món ăn có nguồn gốc từ bên Tàu, tiếng Quảng Châu là lạp trường ngày lễ Tất niên và ruột heo khô. Cũng vì thế vào dịp giáp Tết các cửa hàng nổi tiếng như Đồng Khánh, Đông Hưng Viên trưng bày la liệt các loại lạp xưởng, nào là lạp xưởng mai quế lộ, lạp xưởng khô, lạp xưởng tươi… Chế biến lạp xưởng là nghề của các Chú Ba trong Chợ Lớn. Lạp xưởng được làm từ thịt heo nạc và mỡ, xay nhuyễn, trộn với rượu, đường rồi nhồi vào ruột heo khô để chín bằng cách lên men tự nhiên. Lạp xưởng màu hồng hoặc nâu sậm vì chắc hẳn có thêm chút bột màu. Lạp xưởng ở Sóc Trăng thuộc miền Lục tỉnh cũng rất nổi tiếng cùng với món bánh pía, một món đặc biệt của người Tiều gốc từ Triều Châu. Đôi khi bánh pía còn được gọi là bánh lột da, thực chất có nguồn gốc từ bánh trung thu theo kiểu Tô Châu nhưng khác với loại bánh trung thu mà ta thường thấy. Đây là loại bánh có nhiều lớp mỏng và nhân bánh có trộn thịt mỡ. Bánh pía do một số người Minh Hương di cư sang Việt Nam từ thế kỷ 17 mang theo. Trước đây, việc làm bánh pía hoàn toàn mang tính thủ công và phục vụ cho nhu cầu của từng gia đình. Bánh pía ngày trước cũng khá đơn giản, vỏ ngoài làm bằng bột mì có nhiều lớp da mỏng bao lấy phần nhân, lớp da ngoài dày thường để in chữ, nhân làm bằng đậu xanh và mỡ heo chứ không có lòng đỏ trứng muối và các loại thành phần khác như ngày nay. Do thị hiếu của người tiêu dùng mà các lò bánh mới thêm các thành phần hương liệu khác như sầu riêng, khoai môn, lòng đỏ trứng muối… Vịt quay Bắc Kinh và vịt quay Tứ Xuyên là những món nổi tiếng của Tàu. Đặc trưng của món vịt quay là da vịt mỏng, giòn, màu vàng sậm. Tại miền Nam, vịt quay và thịt heo quay cũng được người Quảng Đông đưa vào danh sách ẩm thực. Vịt quay hoặc heo quay theo đúng kiểu Tàu là phải ăn với bánh bao chay không nhân nhưng người Việt cũng chế thêm món bánh hỏi thịt quay ăn với các loại rau, chấm nước mắm cho hợp với khẩu vị. Ngày xưa, trong Chợ Lớn, nổi tiếng về heo quay, vịt quay có khu vực đường Tôn Thọ Tường, ở Sài Gòn thì khu Chợ Cũ có vài tiệm heo quay của người Tàu. Chuyện kể có một ông cà lăm đi mua thịt quay, khi ông lắp bắp “Bán… cho tôi… 20 đồng… thịt quay…” thì Chú Ba với tay nghề chặt thịt cũng vừa chặt xong đúng 20 đồng! Hết “ăn” giờ lại sang đến “chơi”. Chuyện cờ bạc trong ngôn từ của người Sài Gòn xưa đã xuất hiện không ít những từ ngữ từ tiếng Tàu. Tài Xỉu phiên âm từ tiếng Tàu có nghĩa là Đại – Tiểu là trò chơi dân gian có từ rất lâu. Chỉ cần 1 cái đĩa, 1 cái bát và 3 hột xí ngầu cũng có thể lập sòng tài xỉu nên còn có tên là xóc đĩa. Hột xí ngầu có sáu mặt, mỗi mặt có từ một đến sáu chấm, tương đương từ một đến sáu điểm. Khi ráp sòng, người ta để cả ba hột lên chiếc đĩa sứ, chụp bát lên trên rồi lắc. Tổng số điểm của ba hột từ mười trở xuống gọi là xỉu, trên con số mười là tài. Sau khi chủ sòng lắc đĩa, người chơi đoán hoặc tài hoặc xỉu mà đặt cược. Chuyện thắng thua trong tài xỉu tùy thuộc vào tay nghề của người xóc đĩa, còn được gọi là hồ lỳ. Xác suất chủ sòng là từ 60 đến 70% thắng nhưng vì lỡ mang kiếp đỏ đen nên con bạc vẫn bị thu hút vào sòng xóc đĩa. Các loại bài và hình thức chơi bài cũng có xuất xứ từ tiếng Tàu. Binh xập xám 13 cây có những thuật ngữ như mậu binh không cần binh cũng thắng, cù lủ full house là 3 con bài cùng số và một cặp đôi, ví dụ như 3 con chín + 2 con K lớn nhất là cù lủ ách ace, nhỏ nhất dĩ nhiên là cù lủ hai, thùng flush là 5 con cùng nước suit mà không theo trật tự liền nhau, ngược lại là sảnh straight là 5 con theo trật tự liền nhau nhưng không cùng nước. Kho từ vựng trong xập xám còn có xám chi 3 con cùng loại – three of a kind, thú two hay thú phé two separate pairs là hai cặp và một con bất kỳ nào khác. “Thứ nhất tứ quý 4 con bài cùng số thứ nhì đồng hoa cùng một nước như cơ, rô, chuồn, bích” là một trong số cả rừng từ ngữ của dân binh xập xám. Ở phần trên đã bàn về hai khía cạnh “ăn” và “chơi”, còn một khía cạnh đóng vai trò không kém phần quan trọng là “làm” của người Tàu. Nghề nghiệp được xếp thấp nhất của người Tàu là nghề lạc xoong hay nói theo tiếng Việt là mua ve chai, người miền Bắc gọi là đồng nát. Chú Hỏa 1845-1901, người Phúc Kiến, xuất thân từ nghề này nhưng về sau lại là một trong 4 người giàu nhất Sài Gòn xưa “Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Hỏa”. Một số người Tàu hành nghề bán chạp phô với các mặt hàng thuộc loại tả pín lù nhưng sẵn sàng đáp ứng được mọi nhu cầu hằng ngày của người lao động trong xóm. Tiệm chạp phô chỉ có mục đích lượm bạc cắc từ cây kim, sợi chỉ đến cục xà bông Cô Ba, quả trứng, thẻ đường. Người Tàu kiên trì trong công việc bán tạp hóa, ông chủ ung dung đếm tiền mỗi tối và ẩn dưới tiệm chạp phô là cả một gia tài được tích lũy. Người ta chỉ biết điều này khi có phong trào vượt biên. Tính rẻ “3 cây một người” thế mà cả gia đình chủ tiệm chạp phô vẫn thừa sức vượt biển để tìm đến bến bờ tự do. Cao cấp hơn là những xì thẩu, những người thành công trong kinh doanh. Điển hình cho giai cấp xì thẩu là Trần Thành, bang trưởng Triều Châu, với hãng bột ngọt Vị Hương Tố rồi các mặt hàng mì gói Hai Con Tôm, nước tương, tàu vị yểu đã chinh phục thị trường miền Nam từ thập niên 60 để trở thành “ông vua không ngai trong vương quốc Chợ Lớn”. Xì thẩu Lý Long Thân làm chủ 11 ngành sản xuất và dịch vụ, 23 hãng xưởng lớn hãng dệt Vinatexco, Vimytex, hãng nhuộm Vinatefinco, hãng cán sắt Vicasa, hãng dầu ăn Nakyco, hãng bánh ngọt Lubico, Ngân Hàng Nam Việt, Ngân Hàng Trung Nam, khách sạn Arc en Ciel, hãng tàu Rạng Đông… Xì thẩu Lâm Huê Hồ được nhiều người gọi là “chủ nợ của các ông chủ”. Ông là người giữ nhiều tiền mặt nhất miền Nam, số tiền ông có trong tay bằng vốn của nhiều ngân hàng tư nhân cỡ nhỏ như Nam Đô, Trung Việt gộp lại. Lâm Huê Hồ còn nổi tiếng là vua phế liệu, chuyên thầu quân cụ và võ khí phế thải rồi bán lại cho những doanh nhân trong ngành luyện cán sắt hay bán lại cho Nhật Bản. Người Sài Gòn thường nói “Trần Thành, Lý Long Thân chỉ có Tiếng nhưng Lâm Huê Hồ lại có miếng”. Xì thẩu Vương Đạo Nghĩa, chủ hãng kem đánh răng Hynos, là một người có óc làm ăn cấp tiến. Ông là người có rất nhiều sáng kiến để quảng cáo sản phẩm trên các cửa hàng ăn uống, chợ búa, hệ thống truyền thanh và truyền hình. Có rất nhiều xì thẩu được Sài Gòn xưa gọi là vua. Trương Vĩ Nhiên, “vua ciné”, là chủ hãng phim Viễn Đông và gần 20 rạp ciné tại Sài Gòn – Chợ Lớn Eden, Đại Nam, Opéra, Oscar, Lệ Thanh, Hoàng Cung, Đại Quang, Palace, Thủ Đô…; Lý Hoa, “vua xăng dầu”, là đại diện độc quyền các hãng Esso, Caltex, Shell phân phối nhiên liệu cho thị trường nội địa; Đào Mậu, “vua ngân hàng”, Tổng giám đốc Trung Hoa Ngân Hàng một trong hai ngân hàng châu Á lớn nhất tại Sài Gòn cùng với Thượng Hải Ngân Hàng. Bên cạnh đó lại có Lại Kim Dung là “nữ hoàng gạo”. Giá gạo tại miền Nam là do công ty của bà ấn định, chính phủ đã có lúc phải hợp tác với “nữ hoàng gạo” để ổn định giá gạo trên thị trường. Tạ Vinh là một trường hợp xì thẩu đặc biệt. Năm 1964, Tạ Vinh bị Ủy Ban Hành Pháp Trung ương của Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ xử bắn tại pháp trường cát trước chợ Bến Thành vì tội “gian thương, đầu cơ tích trữ gạo, gây xáo trộn thị trường”. Dân chúng và báo chí gọi Tạ Vinh là “hạm gạo”. theo Nguyễn Ngọc Chính– Hồi ức một đời người Nguồn bài đăng
Hồi những năm 1970 – 1980 ở Sài Gòn thịnh hành câu nói cửa miệng dễ thương, dễ sợ… nhất là trong giới trẻ học sinh, sinh viên. Không ca ngợi bằng những tính từ như đẹp, sang trọng, quý phái… người Sài Gòn thường khen ai đó thường là phụ nữ, một việc làm nào đó là “dễ thương”. Dễ thương, là thấy có cảm tình, quý mến, dễ chịu qua dung nhan, cư xử, hành vi, ngôn ngữ. Phụ nữ ở tuổi nào, tầng lớp nào cũng có thể là người “dễ thương”. Thường nghe mấy bạn trai trò chuyện “nhỏ đó dễ thương” khi nói về cô bạn hàng xóm hay cùng lớp, mấy ông hay nói “chị đó, cô đó dễ thương” khi nói về đồng nghiệp, bạn bè… Phụ nữ thượng lưu cũng muốn được khen dễ thương, vì ngoài sự sang trọng còn là sự duyên dáng, ý nhị. Nhưng đừng tưởng khen người ta “dễ thương” là có thể “thương dễ”, tán tỉnh sàm sỡ, coi vậy chớ “thương không dễ” đâu nha. Ngược với “dễ thương” là “dễ ghét” hay “thấy ghét” nhưng có khi không phải là “ghét” thiệt! Nếu “dễ thương” là… dễ thương thiệt thì “dễ sợ” không hẳn là “sợ”, nhất là khi được các cô gái nói ra với ngữ điệu kéo dài chữ “dễ” và nhấn vào âm “s” của chữ “sợ” thì không có gì… dễ thương bằng. “Dễ sợ” là ngạc nhiên, trầm trồ, khi lại là chê trách, khi là câu trả lời vô thưởng vô phạt khi nghe câu chuyện nào đó. “Dễ sợ” là sự bày tỏ thái độ trước sự việc, hiện tượng, câu chuyện chứ ít dùng với người như một tính từ. Vậy nhưng người Sài Gòn lại hay nói ghép thành “dễ thương dễ sợ”! Đó là dễ thương lắm á, đến nỗi không chỉ bày tỏ sự cảm mến mà còn thán phục, ngưỡng mộ. Mà cũng chỉ thấy những nàng trẻ trung duyên dáng được “đánh giá” là dễ thương dễ sợ, chớ có chồng con rồi, nếu được ai khen câu này – nhất là mấy ông chồng – thì chắc là phần “dễ sợ” nhiều hơn. Lần đầu nghe thấy hai từ “dễ thương”, “dễ sợ” tôi đã kết ngay. Có lẽ ít có từ nào thể hiện sự hồn hậu của người Sài Gòn phổ biến như thế là nhẹ nhàng khen ngợi và không nặng nề chê bai… Tuy có phần “cảm tính” nhưng lịch sự, thật lòng, không “khẳng quyết” nên người được khen là “dễ thương” không bối rối hay ngượng ngùng, người hay hành vi “dễ sợ” cũng không buồn, đôi khi còn vui vui vì nhận ra sự “tán thưởng” ngầm trong đó. Ai không đồng tình cũng không cần phản bác, dễ thương hay dễ sợ chỉ hơn bình thường chút thôi, đôi khi là trong một khoảnh khắc một ngữ cảnh nhất định, đâu cần phải tranh cãi. Người Sài Gòn, người miền Tây vẫn cởi mở như thế và từ đó luôn nhận thấy xung quanh có nhiều điều “dễ thương dễ sợ”. Như nhiều người đã biết, ngôn ngữ là một trong những thành tố văn hóa quan trọng nhất vì nó là biểu hiện trực quan của thái độ, cảm xúc con người, đời sống xã hội và sắc thái văn hóa địa phương. Cùng với ngữ điệu, ngôn ngữ thể hiện sự phong phú và tinh tế của tình cảm, những mối quan hệ của con người và phần nào cả lịch sử một cộng đồng, nhất là ở những đô thị lớn. Ngày mới vô Sài Gòn, khi ra chợ tôi rất ngạc nhiên khi nghe cách chào hỏi cậu, dì, con, cháu… những xưng hô thân tộc bên mẹ chiếm ưu thế ở chợ – một xã hội thu nhỏ. Lối xưng hô này nay chỉ còn trong vài chợ nhỏ lâu đời, nơi mà người bán người mua đều quen thuộc nhau đến vài mươi năm, thậm chí còn là bà con lối xóm. Cùng với “cậu dì con cháu” là “mua giúp, mua giùm”. “Tiền trao cháo múc” vẫn coi là vui vẻ giúp nhau, quan hệ người mua người bán là dịch vụ đấy nhưng thân thiện và tình nghĩa. Không mua bán được thì “lần sau nhớ ghé mua giúp nghen” như một câu chào dễ thương. Nhà tôi trong một hẻm nhỏ ở vùng Phú Nhuận gần sân bay Tân Sơn Nhứt, xung quanh toàn biệt thự và lối xóm là những gia đình công chức, phu nhân của tướng tá quan chức và các cô chiêu cậu ấm. Người Nam có, người Bắc di cư 1954 cũng có, kín cổng cao tường ít khi gặp mặt nhưng khi nhìn thấy nhau luôn chào hỏi niềm nở. Người bán hàng rong mỗi ngày qua đây cũng thành người quen của xóm, bữa nào có thiếu dư chút đỉnh tiền bạc không sao. Đặc biệt cách trả giá của mấy dì mấy cô rất nhẹ nhàng, không chê bai hàng hóa xấu đẹp hay miệt thị người bán đắt rẻ, được giá thì mua không thì thôi. Cứ lựa hàng tính tiền, bữa nào giá cả lên xuống thì nói trước, còn cho thêm nắm hành trái ớt… Việc chi tiêu tốn kém hơn dường như làm cả người bán cũng thấy xót xa chớ không chỉ người mua, ấy là hồi những ngày khó khăn thập niên 70, 80 của thế kỷ trước. Hồi đó ra đường vẫy chiếc xích lô, bác tài không đi được thì xin lỗi mà khách cũng cám ơn. Cám ơn là câu cửa miệng của cả người bán người mua. Gặp người lạ muốn hỏi thăm thì xin lỗi trước, được việc xong là cám ơn liền. Một nụ cười đáp trả như nói “không có chi” mang lại sự vui lòng cho cả hai bên. Cám ơn xin lỗi từ mọi giọng nói Bắc Trung Nam, từ khu biệt thự sang trọng tới xóm nhà lá, từ trường học đến công sở… Cho tới giờ, dù mất đi nhiều ngôn ngữ thịnh hành hồi cuối thế kỷ trước nhưng cũng may người Sài Gòn còn giữ được thói quen “cám ơn” và “xin lỗi” – mừng nhất là thói quen này ở con nít và người trẻ. Đi ngoài đường nhắc nhau gạt chân chống, tắt đèn xinhan, cuốn sợi dây cột đồ… rồi chạy tuốt, người được nhắc vẫn nói với theo câu “cám ơn” dù mặt mũi ai cũng bịt kín mít chẳng biết xưng hô thế nào cho đúng. Hồi đó ở Sài Gòn có đám đánh lộn chửi nhau không? Có chớ! Trong hẻm, trong chợ, ở quán nhậu… Bình thường xưng hô ông tui, lúc “cao trào” thì chửi thề và “mày, tao” với nhau, khi gọi “mày tao” với người lớn tuổi hơn là hỗn hào nhất rồi. Giận mấy thì giận cũng chỉ ngang hàng “bình đẳng”, không trèo leo đòi làm “ông bà cha mẹ” ai. Chắc vậy nên oánh nhau chửi lộn xong thì cũng… thôi, không để bụng thù dai. Hồi đó ở Sài Gòn nghe giọng Sài Gòn, giọng miền Tây nhiều, giọng Bắc giọng Trung cũng không ít, nhưng tất cả đều mang âm sắc nhẹ nhàng, âm lượng vừa đủ, lịch sự. Ngữ điệu cũng vậy, dễ nghe, dường như ai đến thành phố này giọng nói cũng “lai” một chút để có thể tiếp xúc với nhau một cách thân thiện dễ dàng. Những giọng nói như vậy tiếc là Sài Gòn nay ngày càng ít đi. Khi xem những bộ phim về Sài Gòn “hồi đó” thấy ngôn ngữ trong phim như của một nơi xa lạ, hổng phải Sài Gòn như bây giờ… Ngôn ngữ bây giờ phong phú và “đáo để” hơn trước, nhiều tính từ trực diện mạnh bạo, tiếng lóng, sự ám chỉ, liên tưởng cũng nhiều, âm sắc cao hơn, tốc độ nhanh hơn và âm lượng thì hiếm nơi nào chỉ vừa đủ nghe. Người đi xa mà nghe TV hay đọc “báo mạng” thì khó hiểu, thậm chí khó chịu. Thật ra đây cũng là một quy luật của văn hóa Cộng đồng dân cư thế nào thì ngôn ngữ như thế sự phong phú, phức tạp, biến đổi dân cư quá nhanh, tâm thức và vị thế của các nhóm dân cư cũng thể hiện bằng và qua ngôn ngữ. Có cảm giác như ngôn ngữ Sài Gòn không chỉ thay đổi theo cộng đồng dân cư thành phố mà còn thay đổi do tốc độ cuộc sống thời thong thả tản bộ, thời của những chiếc xe đạp mini, xe Solex hay xe máy Honda đã thay thế bằng xe máy phân khối lớn và xe hơi, âm thanh máy quay đĩa và dàn Akai đã thay thế bằng âm thanh của Video và loa thùng karaoke “kẹo kéo”… Những tiếng nói “dễ thương” cứ bị khuất chìm dười những thanh âm “dễ sợ” của một thành phố ngày càng xô bồ nhộn nhạo… Vẫn biết cuộc đời dâu bể mà sao cứ nhớ thương hoài về Sài Gòn “dễ thương dễ sợ” ngày xưa… Tác giả Nguyễn Thị Hậu
ngôn ngữ sài gòn xưa